VIỆT GIÁO PHỤC HƯNG - Phần 1

10/07/2017 16:34

việt giáo phục hưng

 

VIỆT GIÁO PHỤC HƯNG - Phần 1

 

 

 

Phi - Lộ

Đức tin là một định hướng, là nguồn sống của con người, là lý tưởng cao cả. Bởi con người có trí tuệ hơn cả muôn loài trong vạn hữu, biết linh cảm, biết thâu thái tìm hiểu nhận xét sáng tạo và tổ chức, sự tiến hóa từ thời đại cổ sơ của con người vẫn luôn luôn kế tiếp phát động không ngừng để tạo lập và xây dựng bao nền văn hóa phong phú của nhận loại.


Những bộ óc sáng tạo trên đại hạt triết lý văn học, nghệ thuật v.v… đã xuất hiện các nền văn mình kế tiếp để đạt tới một tư thế tiến bộ và khai phóng. Kết quả rực rỡ ấy chính là nhờ Đức Tin huyền diệu mà con người hướng về Thượng Đế.


Triết lý tôn giáo đã tích lũy những tinh hoa siêu Việt tạo một đức tin truyền thống cho thế nhân tinh hoa ấy đã buông trải khắp địa cầu, gieo rắc trong tâm hồn con người niềm hòa đồng sâu sắc kết hợp thương yêu và thuần hậu, mỗi triết thuyết tuy có khác nhau, mỗi lý luận dù mang sắc thái cá biệt nhưng tự trung cũng đều đưa đến mục đích hướng dẫn con người đến với đức tin.
Nền đạo Việt cũng thế, từ ngàn xưa mà đến cả ngàn sau sứ mệnh Việt Giáo chỉ thực hành mục đích cao cả ấy. Có khác chăng là triết luận việt giáo không mênh mông xa vời, không phiêu lưu huyền ảo mà chỉ đặt 1 nhân sinh quan đơn thuần trong nguồn gốc Việt Tộc, gắn liền tâm hồn người Việt với non sông Cẩm Tú lãnh thổ mênh mông với văn hóa cổ hữu cùng nền văn minh truyền thống muôn đời của dòng giống Việt.

 

Thành phần chủ chương Việt Giáo không có khả năng sáng tạo, cũng không có cao vọng xây dựng một sự việc mới mẻ mà chỉ bới tìm trong lớp bụi thời gian để đi xâu mãi vào kho tàng tinh thần bát ngát, hòa đồng với những sự kiện sẵn có mà viết lên cuốn sách này chỉ với hòa bão làm sáng tỏ nền đạo lý cổ truyền thuần nhất của Tiên Tổ đưa ra một định kiến xây dựng để phục hồi nội đạo, khơi nguồn một tư thế truyền thống trong danh nghĩa Việt Giáo phục hưng.


Trước việc làm tính cách  rộng lớn và khó khăn, thành phần chủ trương Việt Giáo Phục Hưng, chúng tôi cảm thấy  quá nhỏ bé đơn phương trước một công tác vĩ đại và man mác sự kiểm thảo còn nhiều thiếu sót, lòng rất ngại ngùng tự nhủ và ước mơ được các bậc cao minh, các hàng thức giả vui lòng bổ cứu thật là điều vạn hạnh lắm vậy.


Quý giáo hữu bốn phương, nền đạo việt đã sắn một tư thế khai phóng, triết luận không viển vông trừu tượng mà diễn đạt những luật định tự nhiên lồng trong lẽ huyền vi siêu Việt. Nền đạo ấy đã gắn trong tâm hồn, nhờ thế từ mấy mươi thế kỷ tạo dựng một đức tin thiết thạch cho con người và tiếp diễn không ngừng trong sứ mạng cao cả hướng dẫn quần sinh trên đường đạo lý.


Thành phần chủ trương Việt Giáo phục hưng đứng trong hàng ngũ quý vị cùng thụ hưởng di sản tinh thần quý báu của tiền nhân tự nhận có bổn phận hòa đồng cùng quý vị, cắt xén những hàng cỏ dại mọc lan tràn bên đường thiên lý, đắp chỗ lở loang bới những trận mưa rừng xối xả, vun quén tô bồi, dựng lều cất quán cho người lữ hành chỗ nghỉ chân những khi nắng lửa mưa dầu, tìm lại sinh lực để rồi tiếp tục tiến tới ánh sáng vinh quang chưa chan vô lượng.
 

Cuốn sách nhỏ này đến tay quý vị cùng một ý nghĩa dẫn đến niềm tin cầu mong lợi ích đôi phần trong dưỡng tính tu tâm, tín ngưỡng thờ phụng và áo ước nhân quần xã hội an lạc trong cảnh giới đạo vị hòa hợp thương yêu.


Quý thân hữu cao khiết, thành phần chủ chương Việt Giáo Phục Hưng thân cảm tấm lòng thiết tha của quý bạn, sự trợ giúp cao quý trên địa hạt tinh thần trong ý kiến xây dựng cùng với nhừng tài liệu tham khảo quý báu “nhất là đối với hai bạn Ngọc Cần và Nghiêm Hồ “

Ngày này cuốn giáo lý cương yếu Việt Giáo Phục Hưng được hoàn thành, công đức ấy quý bạn đã góp một phần rất lớn trong việc xây dựng. Cảm tình trí ngộ đôi lời biết ơn và cầu chúc: Quý giáo hữu thân bằng, quý độc giả bồn phương đồng bào các giới được thân tâm an lạc hạnh phúc miên trường.


Xuân Đinh Mùi, Việt lịch kỷ nguyên 4846

Sài gòn ngày 07 tháng 04 năm 1967

I.M

Thành phần chủ trương Việt Giáo Phục Hưng

HƯNG THẾ NGUYÊN

 

 


 

Đất Thiêng

Nhiều người hỏi đất Việt có đất thiêng không ? tôi hơi ngạc nhiên và băn khoăn, tại sao người ta lại hỏi câu ấy ? Nhưng rồi sau một giây trầm tĩnh không ngần ngại đắn đo tôi mạnh bạo trả lời rằng: “ Đất Việt thiêng lắm ” và vội vàng dẫn chứng.
 

Đất Việt trải qua bao ngàn năm chưa đựng và sinh sản, hứng chịu tất cả và bao dung tất cả, dưỡng nuôi tất cả và tha thứ tất cả, con người được bao bọc bởi lòng đất rồi cũng lại long đất giang tay đốn đỡ những thế xác con người theo định luật hóa sinh đào thải của thời gian và ấp ủ trong lòng đất.


Từ muôn ngàn thế hệ  Đất đã sản sinh bao bậc Thánh nhân bao đấng Đại từ cứu độ quần sinh reo rắc hạnh lành giáo dục thế nhân. Đất đã xuất hiện cả bao anh hùng liệt sĩ cứu nước an dân bảo toàn cương thổ, đât đã xây dựng nền nếp gia phong xây dựng kỷ cương văn hóa, tạo dựng những mẫu người hấp thụ nền đạo lý thuần nhất của giống giòng trong nếp sống tinh thần trên mảnh đất thiêng liêng cố cựu.


Đất Việt cũng đã chịu đựng bao đắng cay chua chát dầy xéo để cả ngàn năm ngoại thuộc với những danh tự khai hóa mĩ miều, với những hình ảnh đạo lý cao khiết và v.v...Nếu không có những người con yêu của Đất dành lại từng khoảnh, chiếm lại từng vùng thử hỏi ngày nay ta sẽ ra sao ?
 

Sự cay đắng ấy vẫn còn tiếp diễn, sự chua chát ấy vẫn còn mùi vị, lòng đất luôn rung động bởi những vật thể hữu hình do con người cấu tạo trong sự tiến bộ cơ khí khoa học cao xa, những tiếng thét đau đớn bởi tai nạn bất kỳ, những tiếng rên la thảm thiết bởi người con Việt làm cho lòng đất chua sót não nề, sự chia cắt làm cho lòng Đất đau đớn mà nguyên nhân cũng chỉ bởi những người con lãng tử  của Đất đã bất chấp gia phong đã không chịu thu huấn nền giáo dục của lòng đất mẹ, nhưng rồi bàn tay dịu hiền của Đất Thiêng vẫn luôn đón đỡ và tha thứ.


Đất Thiêng là đấng Mẫu Tử bao dung che chở cho cả   những người con ăn cơm nhà đi vác ngà voi , xênh xang trong những tòa lâu đài hùng vĩ của kẻ khác rồi tự cho mình là tiến bộ, ngoảnh nhìn lại  mảnh đất khô héo của tổ tiên liếc xéo qua ngôi nhà nhỏ bé siêu vẹo của giống giòng đã bao phen phong vũ tả tơi mà bữu môi chế nhạo, rồi cho rằng: Chỉ có ta , phải chi có ta là đã tìm ra “chân lý” và cũng chỉ có ta là thức thời cao kiến đã biết đi theo cái đà thịnh đạt của xã hội nhân loại, nhưng dẫu vậy lòng Đất mẹ vẫn tha thiết sót sa thương tưởng như bầy con lạc lõng mà vẫn bao dung nuôi dưỡng và thầm ước mơ một ngày kia chim bay ngàn dặm lại quay về tôt cũ.

 

Đất Việt Thiêng lắm ! Đất Việt Thiêng lắm ! đừng phải kiếm tìm đâu nữa mới có đất thiêng. Đúng như vậy đấy hỡi người anh, chị, em cùng chung máu mủ hãy về đây, hãy về đây ta cùng  xây lại ngôi nhà siêu vẹo, thay cột đổi kèo, tô đắp tường vách lở loang  dồn nén mộng hở cho kín đáo, sơn lên những lớp sơn tốt để giữ gỗ lâu bền. Rồi một ngày kia ta sẽ tự hào, gom góp kỳ công xây dựng lên tòa lâu đài tinh thần hùng vĩ của dân tộc Việt tọa lạc trên mảnh đất thiêng của giòng giống Việt ngàn đời.


Mong lắm thay.
HƯNG THẾ NGUYÊN

 

Tìm hiểu

enlightened 1. HỎI: người ta thường nói đến Bách Việt vậy Bách Việt là dân tộc nào ?

ĐÁP: Bách Việt là dân tộc vĩ đại chiếm lĩnh một giải đất mênh mông khởi từ bờ Nam sông Dương Tử qua núi Ngũ Linh và đồng bằng hai sông Nhị, Mã, đến các đảo ngoài khơi Đông Nam Á Châu. Người Việt ta thuộc dòng giống Bách Việt.


enlightened 2. HỎI: Người Bách Việt thuộc chủng tộc nào ?
ĐÁP: Người Bách Việt kết tinh nhiều yếu tố, chủng tộc Úc, Á khác nhau.Sinh hoạt tạp chủng ấy đã bắt đầu từ cuối thạch kỳ ( thời đại Hòa Bình Bắc Sơn) đưa tới hình thành một hệ Bách Việt thuần nhất trước thời đại Đồ Đồng (nghệ thuật Đông Sơn) các di tích cổ khí đã tìm thấy tại  Đồng Bằng hai sông Nhị, Mã và trên bờ Nam Dương Tử Giang,  chứng minh sự hiện diện của Bách Việt, những xương người được khai quật ở thời kỳ này có thể chứng tỏ đặc tính Indonésien và đã vượt qua các yếu tố hội hợp khác để trở thành tiêu biểu của hệ Bách Việt

Sau đó sự lớn mạnh của Đế quốc Trung Hoa tràn qua bờ Nam sông Dương  Tử từ III thế kỷ trước Tây lịch kỷ nguyên, cả đồng bằng hai sông Nhị, mã cũng bị xâm chiếm, dân tộc Bách Việt cũng bị chia xẻ làm nhiều mảnh và sự giao chủng được diễn ra khăp nơi, những người lai Indonésien, Mongolie ra đời suốt bờ nam sông Dương Tử đến Đèo Hải Vân. Dân tộc Việt ngày nay chính là một thành phần Bách Việt bị giao chủng đó.   

 

enlightened 3. HỎI: Có thể coi sự giao chủng là sự diệt chủng của người Bách Việt chăng ?
ĐÁP: Người Bách Việt không bị diệt chủng; minh chứng bởi yếu tố Indonésien vẫn là tiêu chuẩn để phân biệt người Bách Việt với dân tộc Trung Hoa phía bắc là giống người phát tính trên bờ sông Hoàng Hà. Sự khác biệt ấy không những chỉ thu hẹp trong phạm vi nhân chủng mà còn thể hiện trên nền tảng văn hóa cổ truyền của người Bách Việt.


enlightened 4. HỎI: Nền văn hóa cổ truyền của người Bách Việt có những nét đẹp nào ?
ĐÁP: Nền văn hóa ấy biểu hiện đặc tính Indonésien.

enlightened 5. HỎI: Người Indonésien có phải là thổ dân xuất hiện đầu tiên ở Bách Việt không ?
ĐÁP: Họ đã từ Cổ Ấn Độ mà đến, khi dân Argans xâm lược xứ này vào khoảng 4500 năm trước Tây lịch.


enlightened 6. HỎI: Có phải dân Argans đã sáng tạo bộ kinh VỆ ĐÀ và sáng lập BÀ Môn giáo chăng ?
ĐÁP: Tứ kinh Vệ Đà không được sáng tạo trước có cuộc xâm lăng cổ Ấn, và thời đại Bà La Môn giáo chỉ mới bắt đầu mới xuất hiện trước Tây lịch kỷ nguyên từ 1000 đến 800 năm mà thôi.


enlightened 7. HỎI: Như thế ám chỉ điều gì ?
ĐÁP: Như thế là một nguyên lý soi sáng để biết Tứ Kinh Vệ Đà  đã được xây dựng bằng yếu tố địa phương sau khi dân du mục Argans đã tiếp xúc với nền văn minh nông nghiệp địa phương  ( Văn minh Dravidien ) và đã bị nông nghiệp hóa Tất cả các điểm căn bản trong Tứ Kinh Vệ Đà đều thấy phát hiện trong nền văn hóa cổ Bách Việt chẳng hạn như: Vũ Trụ Khai Tịch luận kinh Lê câu Vệ Đà (Rig Veda) cho rằng, Mầm nguyên thủy là quả trứng nổi trên mặt nước sau nạn hồng thủy người Bách Việt cũng quan niệm mầm mống loài người là một quả bầu còn loại sau nạn Hồng Thủy ( Thần thoại Thái, Phủ Nội Mán, Khả, v.v… )

Mặt khác quan niệm về tín ngưỡng phiến thần trong Lê câu Vệ Đà cũng đồng quan điểm với tín ngưỡng cổ truyền Bách Việt. Căn cứ vào những điểm tương đồng căn bản này tất phải nhìn nhận rằng: nền văn hóa Bách Việt là một bộ phận bị lưu đầy của nền văn hóa truyền kiếp Dravidien trong thời thái cổ.


enlightened 8. HỎI: Căn cứ vào đâu mà xác định có một tôn giáo cổ truyền Bách Việt ?
ĐÁP: Căn cứ vào việc khảo cổ đã được khai quật ở Hòa Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn. Căn cứ vào nhưng điều đã được ghi lại của khoa nhân chủng học và sau hết căn cứ vào kho tàng thần thoại phong phú của dân ta, đặc biệt là các thần thoại miền núi còn giữ lại được tính chất Việt Tộc Nguyên Thủy.


enlightened 9. HỎI: Những điều ghi nhận của khoa chủng học chứng minh điều gì ?
ĐÁP: Nhưng điều ghi nhận của khoa nhân chủng học chứng minh rằng chủng tính Bách Việt chủ yếu là chủng tính Indonésien trước khi hệ Bách Việt tan rã và người Bách Việt bị giao chủng.


enlightened 10. HỎI: Các thần thoại chứng minh điều gì ?
ĐÁP: Các thần thoại chứng minh có một sinh hoạt tôn giáo thuần túy Bách Việt khác hẳn tự nhiên giáo Trung Hoa và đối lập với trạng thái vong thân Brahmanique. Sinh hoạt Tôn giáo đó có bản sắc thiết yếu Indonésien mà các chủ điểm có thể tìm gặp trong tứ kinh Vệ Đà, đặc biệt là  Lê câu Vệ Đà ( Rig Veda ).

enlightened 11. HỎI: Thần thoại là những chuyện hoang đường có thế nào xem đó là chuyện đáng tin cậy ?
ĐÁP: Mặc dù bề ngoài là những chuyện hoang đường có vẻ được thêu đặt bằng tình cảm và tưởng tượng song thực ra thần thoại không phải là những truyện hoàn toàn không căn cứ vào sự thực và đem đối chiều với những sự kiện lịch sử, địa lý, nhân chủng, ngôn ngữ v.v… Chúng ta thấy rằng những hình thái tượng trưng của thần thoại đã nói lên nguồn gốc và quan niệm tín ngưỡng của các dân tộc trong thời Thái cổ.
Do đó tượng trưng của thần thoại đã nói lên một phần nào đó về tài liệu nguồn gốc của các dân tộc “ Việt Nam văn học toàn thư tập I trang 53 ”. Một nhà bác học chuyên khảo về thần thoại cũng nhấn mạnh rằng: “muốn đi sâu vào nền văn minh, phải bắt đầu bằng việc tìm hiểu chư Thần”. Tìm hiểu chư Thần tức là đi vào lĩnh vực Tôn Giáo. Các thần thoai do đó còn phản ánh sinh hoạt tôn giáo của xã hội.  Có thể nói rằng trước khi có sử, thần thoại là mảnh vụn lịch sử đầu tiên và sau khi nền văn minh bị tiêu diệt thần thoại chính là mảnh vụ văn minh còn sót lại.   
 

enlightened 12. HỎI: Các nhà nhân chủng học có quan niệm về nền văn hóa cổ truyền Bách Việt đã có trước kinh Vệ Đà chăng ?
ĐÁP: Các nhà nhân chủng học  đều ghi nhận nền văn hóa cổ Bách Việt phản ánh trong thân thoại và đặc biệt là thần thoại của đồng bào miền núi và cho là một nền văn hóa cổ nhất địa cầu, có những bài ca được ghi nhận đã xuất hiện cách đây 15.000 năm, nghĩa là đã có trước những bài ca tán thần linh trong Lê câu Vệ Đà đến cả 10 thế kỷ.

 

enlightened 13. HỎI: Người Indonésien đã đến bách Việt bằng đường lối nào ?
ĐÁP: Ngày nay chúng ta khó có thể xác định con đường nào đã đưa người Indonésien từ Hy Mã Lạp Sơn đến bờ Đông Hải. Nhưng nếu thử nhìn vào hình khắc những con thuyền trên mặt trống đồng  Ngọc Lữ ( thời đại Đông Sơn ) và so sánh những con thuyền tang lễ  của người Dayak trên đảo Bornés (Nam Dương) ngày nay, ta sẽ có hai yếu tố để ước đoán người Indonésien đã đến bằng đường biển.

Yếu tố thứ nhất: những con thuyền trên mặt trống đồng Ngọc Lữ giống hết những con thuyền mà dân Dayak ngày nay còn dùng để cử hành tang lễ.

Yếu tố thứ hai: Quan niệm người Dayak cho rằng những con thuyền ấy trở linh hồn người chết về Tây phương, tất nhiên chúng ta đều hiểu: Tây Phương tức chỉ về cổ Ấn Độ, cõi nước xưa đã trở thành thánh địa của những người ly hương vả lại nếu những người Indonésien xưa đã không bỏ nước ra đi theo đường biển thì sao họ lại có quan niệm về Tây phương bằng thuyền ?

 

enlightened 14. HỎI: Dân ta có ý niệm gì về Tây Phương không ?

ĐÁP: Trong thần thoại Lo Lo người ta thấy hình bóng Tây Phương trong quan niệm về tạo lập vũ trụ đã kể rằng: Kết Sô và Già Se mang đất từ Tây Phương qua Đông Phương nặn ra con người.

Thần thoại Phủ nội cũng kể rằng hai người đầu tiên  từ núi Hy Mã Lạp đến lập đô thị nhà Trời ở Phu Sương (Luang Prabang)

enlightened 15. HỎI: Ý niệm Tây Phương có khi chịu ảnh hưởng  của Đại Thừa Phật Giáo chăng ?
ĐÁP: Nói như vậy là đảo ngược lại sử lý, người Indonésien lìa quê hương Tây Phương khoảng 4.000 năm trước khi Phật Cổ Đàm ra đời và trên 5.000 năm trước khi Phật Giáo Bắc Ấn phát sinh ý niệm về cực lạc Tây Phương.


enlightened 16. HỎI:   Có thuyết cho rằng, những hình khắc trên trống đồng Ngọc Nữ là tiêu biểu của nền văn minh Lạc Việt và những bộ áo lông chim là lông chim lạc có phải chăng ?

ĐÁP: Giả thiết ấy không được khơi động những hiểu biết chính xác về dân tộc Bách Việt.
Bộ áo lông chim không hề xác định những lông chim thuộc về chim Lạc ( Hầu Điểu ) mà có thể là lông chim rừng nào khác để mà hóa thành Ay và Nasay rồi sau sanh đẻ ra trăm cái trứng trong động Nachy Arien ( Thần thoại Mường ), chúng ta cũng nên biết Gà rừng là vật tổ của người Mèo, chim Togo hoặc ông Mồng là vật tổ của một bộ lạc miền núi ở Ninh Bình, ngoài ra nếu quan niệm lông chim trên mặt trống đồng Ngọc Lữ là tiêu biểu của Lạc Việt thì có những hình Nai khắc trên mặt trống đồng là tiêu biểu cho ai ? Cũng có khi nông nghiệp phát triển tại đồng bằng sông Mã “Đông Sơn” người Lạc Việt vẫn tiếp tục săn thứ chăng ?

 

enlightened 17. HỎI: Nữ sĩ Colani cho rằng những hình khắc trên trống đồng Ngọc Lữ là di tích lịch sử thờ cúng mặt trời, ngôi sao chiếu sáng ở giữa là Thái Dương ban phát sự sống cho người và vật đang cùng theo một điệu múa xoay vòng trái đất có phải chăng ?

ĐÁP: Trước hết ta phải giải thích thế nào về sự có mặt chung của ba thứ khác nhau: Chim, Nai, Mặt Trời. Mặt khác quan niệm về Mặt Trời đứng yên trái đấy xoay tròn là một quan niệm quá mới đối với Tổ Tiên ta. Người cổ Do Thái, cổ Hy Lạp, cổ Trung Hoa cũng như người Bách Việt đều có quan niệm chung rằng mặt đất vuông bầu trời úp ở trên như cái vung , chỗ tiếp giáp của trời và đất là chân trời. Sự tích bánh dầy bánh chưng cũng do quan niệm này mà ra.


enlightened 18. HỎI: Dân ta thờ cúng Mặt Trời không ?
ĐÁP: Sự thờ cúng Mặt Trời có thể tìm thấy trong thần thoại NGAI, nữ thần mặt trời của người Roglai và một dấu vết khác nữa trong Trường Ca Đam-San, thiên trường ca bất hủ của người Ra Đê, nói về cái chết của người tù trưởng Dam-San trong rừng đen đất lỏng của nữ thần Mặt Trời Sun-Y-Rit khi Dam-San thất bại trong cuộc chinh phục nữ Thần, hay là một bộ lạc thờ Nữ Thần này. Những điều ấy chưa đủ cho phé xác định rằng cái trống đồng Ngọc Lữ là sản vật cảu người Roglai và hình khắc ngôi sao mười bốn cánh trên mặt trống đồng không nhất thiết là biểu tượng của nữ Thần Mặt Trời.


enlightened 19. HỎI: Vì cơ gì trên mặt trống đồng Ngọc Lữ có khắc hình chim và nai mà không có hình rồng ? Thân thoại dân ta là giòng giõi Rồng vốn do đời sau bịa đặt ra chăng ?

ĐÁP: Thần thoại về giòng giõi Rồng của dân ta không hải là bịa đặt, Dân Bách Việt chia ra nhiều Bộ Lạc khác nhau và Rồng chỉ là Vật Tổ của một bộ lạc trên hữu ngạn sông Nhị sau này sẽ mở nước Văn Lang.


enlightened 20. HỎI: Như thế những hình khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lữ phải hiểu ra sao ?
ĐÁP: Nhìn mặt trống đồng ta có thể hiểu rằng những hình Chim và Nai là những Vật Tổ khác nhau, người giã gạo biểu tượng Bộ Lạc nông nghiệp định cư, người săn bắn biểu tượng những người đàn ông sơn cước. Những chiếc thuyền chở người đeo lông chim diễn tả quang cảnh bộ lạc du mục suôi giòng sông Mã đến nơi Hành Lễ. Hình trạm loài chim là Vật Tổ Bộ Lạc du mục xuôi dòng sông Mã đến nơi Hành Lễ. Hình trạm loài chim là vật tổ bộ lạc ấy, hình Nai là biểu tượng vật tổ của Bộ Lạc định cư ở đồng bằng.

 

enlightened 21. HỎI: Căn cứ vào đâu mà cho rằng hình Nai là biểu tượng Vật Tổ của dân đồng bằng ?
ĐÁP: Căn cứ vào Thần Thoại Siat và Siong, là đôi anh em con Thần của người Roglai ở Cao Nguyên. Thần thoại kể rằng “Siat và Siong được nữ Thần ban cho tấm da Nai nhưng họ đã đánh nhau suốt bẩy ngày đêm nhưng mệt quá chẳng thiết lấ mà quăng xuống biển, dân miền núi vớt được cho là dơ bẩn bèn tặng lại dần Đồng bằng, nhờ đó những người dân đồng bằng trở nên khôn ngoan, sau khi độc suốt trên tấm da Nai”.
Thần thoại ấy khiến ta có thể tin rằng con Nai đã từng là Vật Tổ  của một bộ lạc đồng bằng danh tiếng trong thời tiền sử.
Những hình khắc đây là biểu tượng; sự phối hợp giữa đồng bằng với Chư Thần Thượng Ngàn, sự phối hợp tràn đầy tính chất tôn giáo thiêng liêng mà sau này đã xóa nhòa nên cái hình khắc đấy mới trở thành những hình ảnh ma thuật có năng lực cầu đảo. Qua thời đại về sau thì sự sai lầm càng đi xa hơn nữa khi mà người ta tưởng tượng những hình khắc ấy có một ý nghĩa lịch sử xã hội.

enlightened 22. HỎI: Sự phối hợp giữa đồng bằng với Chư Thần Thượng Ngàn là thế nào ?

ĐÁP: Sự phối hợp ấy sở dĩ được đặt ra là do kết quả của sự nghiên cứu sâu xa về nguồn gốc Tôn Giáo, từ hình thức bái vật ( Intémisme ) qua Thần thoại đến các hình thức đa Thần cho biết rằng hình ảnh một ngọn núi cao vời những vị Thần oai linh hiện ra rất rõ ở khắp nơi. Núi Sinai của người Do Thái, Olympe của người Hy Lạp, Tu Di của người Ấn Độ. Ngọn núi lớn mà chư thần oai linh chính là biểu tượng thần hóa của các Bộ Lạc sơn cước du mục. Trong thời Thái cổ các Bộ Lạc Mẫu Hệ định cư có lệ tìm đến gặp gỡ hằng năm để truyền tiếp dòng dõi sau khi cử hành một cuộc lễ chư Thần trang nghiêm trên đỉnh núi cao.

 

enlightened 23. HỎI: Sự truyền tiếp giòng giõi giữa một Bộ Lạc sơn cước với một Bộ Lạc đồng bằng  có phải là hiện tượng phổ biến trong thời Thái Cổ không ?

ĐÁP: Hiện tượng đó phổ biến khắp thế giới.


enlightened 24. HỎI: Vì lí do gì cái trống lại trở thành thần tượng sức mạnh của người Bách Việt, biểu tượng Thâng Sấm ?

ĐÁP: Khi nguồn gốc đích thực của các hình đước khắc trên mặt trống đồng đã bị lãng quên, tiền lệ gặp gỡ giữa các Bộ Lạc sơn cước và đồng bằng không còn thịnh hành và hôn nhân đã xuất hiện thì chỉ còn lại một ý niệm  mơ hồ về sự thiêng liêng của cổ khí. Từ đó người ta tin rằng những “ mật ngữ ” trên trống đồng là những biểu tượng của chư thần, có oai lực của chư thần.

enlightened 25. HỎI: Căn cứ vào đâu để biết được những địa điểm hành lễ cừa các Bộ Lạc tràn đầy tính cách Thần Bí tôn giáo ấy ?
ĐÁP: Căn cứ vào nới phát tích trống đồng Ngọc Lữ (Đông Sơn trên bờ sông Mã) người ta có thể xác định xa hơn là nơi gặp gỡ hàng năm của hai bộ lạc nằm trong vùng núi Khai Trướng ở …
mà cách phục sức hay trang điểm, họ muốn làm cho giống vật tổ của mình.
Người thờ chim Lạc cũng thế, họ đội mũ mặc áo lông chim và có thể đeo cánh cho giống loài chim , điều này rất có thể nhầm là Tiên chăng ?

Tuy nhiên sự giải thích này cũng chỉ là đưa ra một giả thuyết một giả thuyết bởi những hiện tượng siêu nhiên thường thấy nói đến ở Việt Nam từ ngàn xưa thì một bà Tiên Âu Cơ sao lại chẳng thể có ?

enlightened 26. HỎI: Người bộ lạc thờ Rồng xâm mình cũng có ý nghĩa như thế nào ?
ĐÁP: Đúng như thế, người thờ Rồng xâm mình cũng chỉ là để cho giống vật tổ của mình chứ chẳng phải để đánh lừa thủy quái khiến chúng tưởng mình là đồng loại mà không sát hại, bởi ý niệm lợi ích ít khi có đối với người xâm mình xưa mà chỉ là cách thể hiện sự linh thiêng của bản thân vì bản thân với vật tổ là Một. Tuy nhiên lý luận lợi ích cũng có vẻ thực tế khi người ta biết lợi dụng ý nghĩa ấy.

enlightened 27. HỎI: Sự tìm hiểu một giả thuyết nguồn gốc nhân chủng văn hóa Tôn Giáo của hệ Bách Việt xưa có liên quan đến sự lợi ích trên địa hạt tinh thần của giống Bách Việt nói chung và của dân tộc Việt Nam nói riêng chăng ?
ĐÁP: Tất cả các sắc dân trên thế giới ngày nay vấn đề chủng tộc được đặt ra với một tần mức quan hệ đặc biệt cho cuộc sống hòa đồng nhất là trên địa hạt văn hóa Tôn Giáo của hệ Bách Việt xưa đã vượt ra ngoài những ảnh hưởng sinh hoạt vật chất mà tạo dựng một hộ thống tinh thần chủng tộc. Tất nhiên sự tìm hiểu phải là điều lợi ích một cách sâu sắc cho giống bách việt nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng, vả lại một giả thuyết được đặt ra thường là lợi ích cho sự suy luận để tìm hiểu.

 

 

Phần Thứ Nhất

 

Tiên Chúa Liễu Hạnh

Tức Đức Vân Hương Thánh Mẫu
 

 

1.Nguồn gốc
 

enlightened 1. HỎi: QUý vị theo tôn giáo nào ?
ĐÁP: Chúng tôi theo Việt Giáo.


enlightened 2. HỎI: Tại sao gọi là Việt Giáo ?
ĐÁP: Gọi là Việt Giáo vì tông giáo này là nội đọa của người Việt, khởi nguồn trên đất Việt. Lịch sử tôn giáo gắn liền với lịch sử Hương Vong của người Việt.


enlightened 3. HỎI: Việt Giáo có từ bao giờ ?
ĐÁP: Việt Giáo phát sinh từ thời đại cổ sơ trong sinh hoạt của cộng đồng nguyên thủy. Khi ấy các vật tổ (Totem) được xem là biểu hiện sức mạnh bao la, huyền bí của đấng Chí Tôn.


enlightened 4. HỎI: Theo chỗ chúng ta hiểu chế độ vật tổ xuất hiện rất lâu trước khi thành hình phiến thần giáo (Panthéisme) rồi lại kinh qua một thời kỳ đa thần giáo (Panthéisme). Quan niệm về đấng Chí Tôn chính là quan niệm của đơn Thần giáo (Panthéisme). Quan niệm về một đấng Chí Tôn  chính là quan niệm của đơn Thần giáo. Có lẽ nào chế độ vật tổ và quan niệm về đấng Chí Tôn lại xuất hiện cùng lúc ở Việt Nam ?
ĐÁP: Thắc mắc như vậy rất phải, khuynh hướng phán chia các giai đoạn phát triển của tín ngưỡng tôn giáo như trên hiện rất phổ biến. Tuy nhiên nếu nghiên cứu sâu xa hơn về chế độ vật tổ không riêng ở Việt Nam quý vị sẽ hiểu rằng chế độ vật tổ không chỉ có nghĩa là con người  kính thờ linh vật mà thôi. Loài người thờ vật tổ chính vì tin tưởng rằng ngoài ranh giới của mình còn có một sức mạnh vĩ đại huyền bí (danh từ khoa học tôn giáo gọi là Mana). Các vật tổ trở thành linh thiêng vì được tràn đầy sức mạnh huyền bí nên đã trở thành sứ giả thông truyền sức mạnh linh thiêng cho loài người. Không bao giờ có sự nhầm lẫn giữa vật tổ (Totem) và sức mạnh mênh mông, huyền bí (Mana) là oai linh của đống Chí Tôn.

 

enlightened 5. HỎI: Truyền thuyết cho rằng dân Việt Nam là giòng giõi Rồng Tiên có được nhìn nhận trong giáo lý Việt Giáo không ?
ĐÁP: Truyền thuyết đó được nhìn nhận trong giáo lý Việt Giáo vì Rồng nguyên là vật tổ của người Văn lang. Sự kết hợp rồng tiêu biểu lộ một tín ngưỡng sâu sắc về quan hệ mật thiết giữa con người và Thượng Đế, đặc biệt của dân tộc Việt. Thượng đế không xa cách mà rất gần chúng ta, Ngài đã gả con gái của Ngài cho người mang sức mạnh và linh khí của loài Rồng để khai sinh một dân tộc tốt đẹp.

 

enlightened 6. HỎI: Tiên là con gái của Chí Tôn ?
ĐÁP: Theo tín ngưỡng cổ truyền của dân ta, chư Tiên bao giờ cũng là con của Thượng Đế. Đức Hoạt Thánh Bảo Pháp Vương của bổn giáo là Vân Hương Thánh Mẫu nguyên cũng là
một Thiên Tiên con gái của đấng Chí Tôn.

2. Tam Phủ và Tứ Phủ
enlightened 7. HỎI: Đạo Tam Phủ và Tứ Phủ có thuộc về nội đạo không và có được nhìn nhận trong giáo lý Việt Giáo ?
ĐÁP: Tín ngưỡng  Tam Phủ  và Tữ Phủ đều thuộc về nội đạo và được nhìn nhận trong giáo lý Việt Giáo.

 

enlightened 8. HỎI: Tam Phủ là gì ?
ĐÁP: Tam Phủ là ba Phủ: trời, rừng núi và sống biển thường gọi là Thiên Phủ, Nhạc Phủ, Thoải Phủ.

enlightened 9. HỎI: Cai quản bà phủ là vị nào ?
ĐÁP: Cai quản ba phủ là bà vị Vương Mẫu
- Thiên Phủ có Mẫu Thiên Phủ
- Phủ có Mẫu Nhạc Phủ hay còn gọi là Mẫu Thượng Ngàn.
- Phủ có mẫu Thoải Phủ

Gọi chung là Tam Vương Mẫu

 

enlightened 10. HỎI: Quan niệm về ba Phủ trời - rừng - núi  - sông bể hình thành trong cảnh ngộ nào ?
ĐÁP: Quan niệm Tam Phủ thoát thai từ chế độ vật tổ và hình thành trong những diêu động lịch sử của dân tộc. Trong câu giải đáp số 4 và số 5 chúng tôi đã trình bầy về quan niệm Thượng Đế của dân ta ở thời đại cổ sơ và mối quan hệ thắm thiết giữa giống nòi Rồng với Thế Giới linh thiêng. Những cuộc chinh phục của nhà Tây Hán III trước Tây Lịch đã thúc đẩy dân ta kết hợp thành một khối thống nhất. Mặt khác mặc dầu nền tảng nông nghiệp sơ khai đã xuất hiện, sinh hoạt của dân ta lúc bấy giờ vẫn lấy ngư lạp làm chính. Do sự tiếp xúc với thiên nhiên, trong khi bắt cá dưới nước và săn thú trên rừng, dân ta đã tiến tới phân biệt các oai linh của Nhạc phủ và Thoải phủ khác với oai linh của Chư tiên ở cõi trời. Từ đó chế độ vật tổ được vượt qua, tuy nhiên hình ảnh bất tử của loài Rồng vẫn được ghi nhớ là Thủy tổ của giống nòi.


enlightened 11. HỎI: Tứ Phủ khác Tam Phủ thế nào ?  

ĐÁP: Tứ phủ gồm 4 phủ: Trời, rừng, núi, sông, bể và đất cát (Thổ địa). Cai quản mỗi phủ vẫn là Vương Mẫu và phủ của ngài là Địa Phủ. So với Tam Phủ thì có thêm một phủ, ngoài ra tứ phủ còn có Công Đồng các Thánh gọi là Tứ Phủ Công Đồng.

 

enlightened 12. HỎI: Sự thành lập Địa Phủ có ý nghĩa gì ?

ĐÁP: Sự thành lập Địa phủ là một mặc khải mới của dân ta trước thế giới oai linh. Từ sinh hoạt ngư lạp dân ta đã tiến tới phát triển nông nghiệp từ đầu thế kỷ thứ nhất (đó là thời đại Đông Sơn trong khảo cổ học). Chính trong lao lao tác con người đã nhận biết quyền lực phi phàm của Mẫu Địa Phủ.

 

enlightened 13.  HỎI: Tại sao đứng đầu các phủ đều là Mẫu ?
ĐÁP: Đây là đặc điểm của Việt Giáo, tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc ta đã khởi nguồn từ thời cổ sơ khi ấy chế độ mẫu hệ còn thịnh hành.

 

enlightened 14. HỎI: Mẫu hệ là thế nào ?

ĐÁP: Hầu hết các dân tộc trên thế giới đều kinh qua giai đoạn văn minh này. Dưới chế độ mẫu hệ, con theo họ (hay vật tổ) của mẹ , phụ nữ nắm quyền định trong thị tộc hay bộ lạc. Ở Việt Nam chế độ mẫu hệ chính thức chấm dứt sau cuộc nổi dậy thất bại của Trung Vương chống Đế Quốc Hàn.

 

enlightened 15. HỎI: Tứ Phủ Công Đồng gồm có những gì ?
ĐÁP: Tứ Phủ Công Đồng là Công Đồng Chư Thánh bốn Phủ. Công Đồng này gồm có Hội Đồng các Quan, Hồi Đồng các Chầu, hội đồng các ông Hoàng, hội đồng các Cô và hội đồng các Cậu. Mỗi hội đồng có 12 vị Thánh, oai lực bao tròm khắp âm dương giới.

enlightened 16. HỎI: Người ta thường nói đến oai linh của Năm Quan, đó là các vị Thánh nào ?
ĐÁP: Đó là 5 vị Thánh trong hội đồng các Quan, từ Quan Đệ Nhất đến Quan Đệ Ngũ. Sắc phục của các ngài khác nhau. Quan Đệ Nhất áo đỏ, Quan Đệ Nhị áo xanh, Quan Đệ Tam áo trắng, Quan Đệ Tứ áo vàng, Quan Đệ Ngũ áo Tím. Giáo pháp của các Ngài cũng khác nhau: Quan Đệ Nhất là vị quan tổng chỉ huy, Quan Đệ Nhị là vị giám sát, Quan Đệ Tam trông coi sông bể, Quan Đệ Tứ là vị âm dương phán quan, Quan Đệ Ngũ trấn an bờ cõi.
enlightened 17. HỎI: Người đi đền phủ thường lễ: “ Lạy Vua, lậy Mẫu, lậy Chúa, lậy Chầu ”. Via ấy là ai ? Mẫu ấy là ai ? Chúa ấy là ai ? và Chầu ấy là ai ?
ĐÁP: Vua ấy là Ngọc Hoàng Thượng Đế, Mẫu ấy là  Tứ Vương Mẫu cai quản bốn phủ, Chúa ấy là Đức Tiên Chúa hoặc Thánh bảo pháp Vương của Bổn Giáo, Chầu ấy là các Đại Thánh Nữ tả hữu của các Bảo Pháp Vương.

 

3. Thời kỳ mạt giáo

enlightened 18. HỎI: Vì sao quan niệm Phục Hưng Việt Giáo ?
ĐÁP: Ngày nay đặt vấn đề phục hưng Việt Giáo vì sau những thế kỷ phát triển nội đạo trong thời đại Tự chủ đã tiếp đến thời kỳ mạt giáo, nền văn hóa dân tộc bị xâm nhập bởi các học thuyết và Tôn Giáo từ ngoại bang du nhập, đặc biết từ triều Lý Thái Tổ ( Vị này cũng như Chu Nguyên Chương là vị Vua sáng lập Minh Triều Trung Hoa, vốn là một chú tiểu ). Sự sâm nhập của nho học Lão giáo cũng mạnh mẽ không kém sự xâm nhập của Phật Giáo và mạnh mẽ đến nỗi một mặt làm biết đổi cả tín ngưỡng cổ truyền, một mặt đẩy lùi Việt Giáo xuống hàng tà đạo, bàng môn và bao phủ lên Việt Giáo một tấm màn ma huyễn.


enlightened 19. HỎI: Xin cho biết vài nét chính về sự tổn thương của Việt Giáo do các ảnh hưởng văn hóa du nhập gây ra ?

ĐÁP: Sự tổn thương của Việt Giáo do các ảnh hưởng du nhập gây ra có thể quy về ba phương diện.
Một là: tín ngưỡng của dân ta về Tam Tứ Phủ bị hiểu sai là Tam tài và Tứ Tượng. Cho đến ngày nay, sự hiểu sai lệch đó vẫn chưa tan hết và vẫn còn nhiều người đinh ninh rằng Tam phủ ấy là Thiên, Địa, Nhân.
Hai Là: Lễ nhạc và các nghi thức tôn giáo cổ truyền bị biến đổi dần, bao phủ bởi ảnh hưởng Lão Giáo, thậm chí sự tích chư Thánh, chư Thần cũng trở thành mơ hồ rối loạn, hiện tượng Thông linh mai một dần và cuối cùng được đồng hóa với pháp thuật tà môn, Ba là nền triết lý đạo đức dân tộc vốn chí nhân, chí thành lấy khoan dung làm đạo đức giáo hóa người chứ chẳng dùng hình phạt mà áp đảo người đã bị xâm nhập bởi khái niệm về Niếp Bàn và Địa Ngục lại phan biệt thân với tâm cho thân người là ô trược giả hữu đối lập  với cái tâm thanh tịnh nhất như.


enlightened 20. HỎI: Sự phục hưng của Việt Giáo có va chạm đến các Tôn Giáo du nhập chăng ?
ĐÁP: Dân tộc ta vốn có lòng hòa hợp. Việt Giáo có lòng thân ái đối với các Tôn Giáo du nhập đã góp phần làm phong phú nền tư tưởng học thuật trong nước nhưng cần duy trì sự thuần khiết của nội đạo như nền tảng Tôn Giáo, Đặc Thù của giống nòi Rồng Tiên.

enlightened 21. HỎI: Tại sao không gọi thời kỳ Việt Giáo suy đồi là thời Mạt Pháp mà lại gọi là thời Mạt Giáo?

ĐÁP: Việt Giáo là 1 tôn giáo, không riêng là triết lý đạo đức hay tín ngưỡng. Thời kỳ một tôn giáo suy vi phải gọi là Mật Giáo.

enlightened 22. HỎI: Nếu gọi là Mạt Pháp thì có khác gì chăng ?
ĐÁP: Mạt Pháp là danh từ Phật giáo. Pháp ấy nghĩa là Đạo Lý của Phật Môn, tiếng phạm là Dharma theo nghĩa này thì Mạt Phá có nghĩa là sự suy đồi của triết lý đạo đức.

Tuy nhiên theo lý luận của Duy thức Tông và các pháp môn Đại Thừa khác chịu sự xâm nhập mạnh mẽ cửa siêu hình học Bà La Môn thì tiếng Phám được mở rộng đến vô hạn định, cho là trong thế gian mọi sự mọi vật chẳng có cái gì không phải là Phật Pháp.
Theo nghĩa này thì danht ừ Mạt Pháp rất mơ hồ, không có tiêu chuẩn nào để xác định.

 

enlightened 23. HỎI: Những tổn thương của Việt Giáo xét ra rất trầm trọng, thời kỳ Mạt Giáo lại kéo dài qua bao nhiêu thế kỷ. Ngày nay biết dựa vào đâu mà Phục Hưng ?
ĐÁP: Các ảnh hưởng du nhập dẫu nặng nề vào những tổn thương của Việt Giáo, dẫu trầm trọng nhưng tín ngưỡng cổ truyền của dân ta nơi oai linh của Thượng Đế cùng chứ Thánh chư Thần vẫn chưa mất, quảng đại dân gian đặc biệt là đồng bào miền núi vẫn giữ quan niệm triết lý đạo đức cổ truyền tin rằng ở hiền là thuận ý trời, luật tự nhiên là sinh hóa chứ chẳng phải sinh diệt, con người và muôn loài rất gần gũi và thân thiết.

 

enlightened 24. HỎI: Tại sao lại đặt ra vấn đề về PHỤC Hưng Việt GIÁO ?
ĐÁP: Cây có cội, nước có nguồn. Mỗi dân tộc có một bản sắc riêng, có một lịch sử riêng, một nền văn hóa tôn giáo riêng được ân sủng phù trì của những oai linh riêng. Chẳng bao giờ nên nhầm lẫn hòa hợp với thất cước.


enlightened 25. HỎI: Việc Phục Hưng Việt Giáo lúc này có thuận lòng người chăng ?

ĐÁP: Trong những thế kỷ việt giáo suy đồi, dân tộc đã phân tâm nhiều ngã nhưng cuối cùng cũng giống như những kẻ ly hương luôn luôn khát khao trở về chân trời cũ. Người người muốn tìm về nguồn nươc xưa chứa chất tình yêu và sức sống của mạch đất sinh thành.
Bởi lẽ đó, việc phục hưng Việt Giáo lúc này rất cần thiết việc ấy, như lời Khổng Tử nói: Chính là thuận ý trời và hợp lòng người.

 

 

 

Còn nữa ...

 
 
 
 

Nguồn: Căn Đồng Số Lính Việt Nam