VÀI THỦ ẤN CĂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO

21/03/2017 17:01

Hầu bóng là một phong tục gắn liền với đời sống tâm linh của người Việt. Đây là một lễ thức đặc trưng mà tiêu biểu nhất là tín ngưỡng Tứ Phủ.

Ý NGHĨA CỦA THỦ ẤN

Thủ Ấn (tiếng Phạn là Mudra_ Tiếng Tây Tạng là Phyag-rgya), lại xưng là Ấn Khế, hiện nay thường chỉ các loại tư thế được kết hợp bởi hai bàn tay với các ngón tay của Hành Giả khi tu Pháp Mật Giáo. Dịch âm là Mẫu Đà La, Mộ Nại La, Mẫu Nại La. Hoặc xưng là Ấn Tướng, Khế Ấn, Mật Ấn, hoặc xưng đơn giản là Ấn.

Thủ Ấn của Phật, Bồ Tát với Bản Tôn tượng trưng cho Nguyện Lực đặc thù và Nhân Duyên của Ngài, do đó khi chúng ta cùng với Ngài kết Thủ Ấn tương đồng sẽ có dịp sinh ra lượng sức mạnh của thân thể và lượng sức mạnh của ý niệm. Điều đó hòa chung với trạng thái thân tâm của lượng sức mạnh Bản Vị tu chứng của Phật, Bồ Tát với Bản Tôn, huống chi là đích tương ứng.

Trong Mật Giáo, Thủ Ấn nhằm chỉ hiện tượng mà các Tôn trong Mạn Đồ La Hải Hội dùng để biểu thị Cảnh Giới Tam Muội nội chứng của mình, hoặc người tu hành dùng biểu đạt rõ sự tương đồng với Bản Thệ của các Tôn, còn Mật Ấn đã kết ở trên ngón tay của mình thì thuộc về Thân của Bản Tôn, là Thân Mật trong ba Mật: Thân, Ngữ. Ý.

Ba Mật (tiếng Phạn là Trini-guhyāni) là chỉ ba Nghiệp bí mật, tức là Thân Mật (Kāya-guhya), Khẩu Mật (Vāg-guhya) hoặc xưng là Ngữ Mật; Ý Mật (Mano-guhya) hoặc xưng là Tâm Mật (Citta-guhya), chủ yếu đến từ giáo thuyết của Mật Giáo

Do ba Mật của Đấng Phật Đà (Buddha) có tác dụng rất ư nhỏ nhiệm thâm sâu, chẳng phải là nơi suy tư theo kịp, dù là Bồ Tát mười Địa cũng chẳng thể biết rõ hoàn toàn, cho nên xưng là ba Mật. Nếu đem tương ứng với ba Nghiệp của chúng sinh thì hay sinh khởi đại dụng chẳng thể nghĩ bàn.

Tuy ba Nghiệp của chúng sinh là nơi Tạp Nhiễm, nhưng vẫn có thể khế hợp với ba Mật của Phật, lại đều nhiếp ở trong đó mà Thể Tính của tự tâm chúng sinh đồng với ba Mật của Phật, tức Thật Tướng ba nghiệp của chúng sinh đều là tác dụng của Pháp Tính (Dharmatā) cùng với ba Mật của Phật bình đẳng không hai, cho nên xưng là ba Mật

Trong ba Mật của chúng sinh, Hành Giả dùng tay kết Ấn Khế của Bản Tôn cho đến tất cả sự nghiệp của việc đi, đứng, ngồi, nằm….đều xưng là Thân Mật. Miệng tụng Chân Ngôn cho đến Khẩu Nghiệp của tất cả nhóm ngôn ngữ…đều xưng là Khẩu Mật. Trong tâm quán Bản Tôn cho đến tùy theo tất cả Nhân Duyên khởi niệm đều gieo trồng sự nghiệp… đều xưng là Ý Mật

Bàn rộng hơn thì Thân Mật chẳng phải là chỉ Thủ Ấn để dùng, không luận cách thức nhất định thế nào của Thân Thể đều thuộc ở phạm vi của Thân Mật. Bàn tay của con người rất linh hoạt khéo léo, hay tạo ra đầy đủ các loại dạng thức, có điều là xây dựng tại sự nhiễm ô đích thực trên sự Vô Minh (Avidya). Động lực đã tạo làm đều là đến từ sự tham lam, giận dữ, ngu si, kiêu ngạo, nghi ngờ…Ví dụ như nhân vì sự tức giận mà nắm bàn tay lại đánh người, thậm chí phát triển thành một bộ Quyền Pháp, hoặc nắm chắc khởi vũ khí công kích hàng nhóm người khác, không có điều gì chẳng phải là vâng theo sự Vô Minh để khu động, việc đã tạo làm đưa đến sự nhiễm dính Nghiệp.

Theo nghĩa rộng mà giảng thì hết thảy động tác thuộc thân thể của mỗi con người đều là phạm vi của Thân Nghiệp, là mọi điều được khởi làm trong sự nhiễm ô, cho nên chẳng đồng với Thân trong sạch của Phật Bồ Tát

- Ba Mật (tam mật) có thể chia làm hai loại Hữu Tướng (có tướng), Vô Tướng (không có tướng).

Lại Hữu Tướng Tam Mật là Phật cùng với chúng sinh trợ nhau dung nhiếp, vào cảnh giới Du Già. Hành Giả: Thân kết Ấn tức là Thân Mật, miệng tụng Chân Ngôn tức là ngữ Mật, Ý quán Bản Tôn tức là Ý Mật. Xưng là Hữu Tướng Tam Mật

Vô Tướng Tam Mật là chỉ hết thảy hành vi thuộc Thân, Ngữ của Hành Giả, điều mà Tâm của mình đã suy tư đều là Tam Mật. Xưng là Vô Tướng Tam Mật.

- Kinh Đại Nhật, quyển 6 (Phẩm Bản Tôn Tam Muội): “Ấn Khế có thể chia thành hai loại Hữu Hình (có hình), Vô Hình (không có hình)”

- Đại Nhật Kinh Sớ , quyển 20 giải thích: “Ấn Hình cũng có hai loại là Hữu Hình, Vô Hình.

Hình tức là màu của nhóm xanh, vàng, đỏ trắng…hình của nhóm vuông, tròn, tam giác…loại của co, duỗi, đứng với nơi đã trụ.

Ấn là Ấn đã cầm tức là loại: đao, bánh xe (luân) sợi dây, chày Kim Cương

Bắt đầu, Tâm phân biệt Duyên mà quán, tức là trước tiên quán hình vẽ của Tôn, quy ước theo điều này mà quán thì gọi là Hữu Hình. Sau dần dần thuần thục, lại dùng sức gia trì cho nên tự nhiên mà hiện, cùng với Tâm tương ứng. Khi ấy Bản Tôn chỉ theo Tâm hiện, chẳng khác với Duyên bên ngoài, cho nên nói là Vô Hình vậy

Còn Hữu Tướng Tam Mật là ba Mật của Phật, Bồ Tát, Bản Tôn gia trì ở trên ba Nghiệp của Hành Giả, cho nên xưng là Tam Mật Gia Trì.

Vô Tướng Tam Mật là ba Mật của Phật cùng với ba Mật của Hành Giả, tương ứng dung hợp cho nên xưng là Tam Mật Tương Ứng

Mật Tông y theo Tam Mật Gia Trì, Tam Mật Tương Ứng này làm tác dụng rộng lớn khiến cho chúng ta hay chuyển thân Phàm Phu mà thành tựu Thân Phật vậy.

Tóm lại là thông qua ba Mật Thân Ngữ Ý để tu trì, khiến cho chúng ta Tức Thân Thành Phật. Nhân vào điều này cho nên chúng ta nên suy nghĩ lại, dò xét ý nghĩa thâm sâu đích thực cùng với Hành Tướng của ba Mật Thân Ngữ Ý dùng làm Hạnh trước tiên (tiên hạnh) của việc tu tập ba Mật.

Bình thường chúng ta nhìn thấy Tượng tô vẽ (đồ tượng), tượng nặn đắp (sóc tượng) của Phật, Bồ Tát, Bản Tôn. Phần lớn dùng vật cầm giữ hoặc Thủ Ấn trên Thân của các Ngài để phán định tên gọi của Tôn ấy.

Thật ra, chẳng kể là Đức Phật A Di Đà (Amitābha-buddha), Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi-buddha), Đức Phật Bất Động (Aksobhya-buddha) hoặc Đức Phật Dược Sư (Bhaiṣaijya-guru-buddha) trong quá trình các Ngài trụ ở đời thì Thủ Ấn đã kết có sự tương đồng. Bởi thế dùng Thủ Ấn với vật cầm giữ để phán đoán tên gọi của Tôn thì chẳng phải là phương pháp phân biện tuyệt đối.

Nhưng nếu chúng ta xem riêng từng tượng Phật một thì từ Thủ Ấn lại là điều mà có thể dùng để biết rõ nhân duyên Nguyện Lực đặc biệt với hoàn cảnh giác ngộ đặc biệt, cho đến trạng huống đặc biệt khi thành Đạo, lúc nói Pháp của vị ấy

Ví dụ như Ấn Thuyết Pháp với Ấn Tiếp Dẫn của Đức Phật A Di Đà là một kiểu mà mọi người đều biết rõ. Nhưng thật ra, Thủ Ấn ấy đã từng xuất hiện trên thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chẳng qua là hiện tại chúng ta nắm lấy Thủ Ấn để đặc thù hoá mà thôi. Do Ấn Thuyết Pháp với Ấn Tiếp Dẫn của Đức Phật A Di Đà đặc biệt thường dùng cho nên đã dùng Thủ Ấn này để phân biệt.

Thêm vào đó còn có Ấn Cửu Phẩm Cửu Sinh, ấy là khi Đức Phật A Đi Đà tiếp dẫn người Cửu Phẩm Cửu Sinh đã hiện bày cảnh giới Đặc Hữu (đặc biệt có đầy đủ, hoặc có riêng lẻ) là cảnh giới được hiện ra y theo sự thiết yếu của người vãng sinh. Với cách dẫn lối của các Ngài thì chín Thủ Ấn ấy chẳng phải nhất định là như thế, chẳng qua chỉ là sự đặc thù hoá trong Mật Giáo mà thôi

Đức Phật A Di Đà có khả năng tương ứng với nhân duyên, nên ngay lúc tiếp dẫn chúng sinh Thượng Phẩm Thượng Sinh thời hiện bày Pháp Giới Định Ấn an trụ tại Pháp Tính viên mãn

Hiểu thấu tỏ nhân duyên ấy thì chúng ta có thể chính xác nhận biết được Thủ Ấn.

Ở thời Cổ Đại, khi Hành Giả tu Pháp, kết Thủ Ấn thời có những việc cần chú ý như sau: Tại Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 13 dẫn thuật Pháp mà Ngài Thiện Vô Uý đã nói là: “Pháp Bí Ấn ở phương Tây (Ấn Độ) lúc làm thời lại rất cung kính, chủ yếu ở trong Tôn Thất, nơi thanh khiết…nên tắm gội nghiêm thân. Nếu người chẳng mỗi mỗi tắm rửa, ắt nên rửa sạch bàn tay, xúc miệng, dùng hương xoa bôi xoa bàn tay…rồi mới được làm vậy. Lại lúc làm thời nên phải giữ Uy Nghi, ngồi Kiết Già. Nếu chẳng như thế sẽ bị tội khiến cho Pháp chẳng được mau thành”

Đại ý nói: “Lúc kết Thủ Ấn thời ngay trên hoàn cảnh, cần thiết chọn lựa cái Thất sạch sẽ thanh khiết, tắm gội thân sạch sẽ, nghi dung đoan chính, ngồi Kiết Già rồi mới có thể kết Ấn. Nếu không có Pháp: tắm gội thì cần yếu trước tiên làm sạch bàn tay, xúc miệng, dùng hương xoa bôi bàn tay. Dùng điều này để biểu thị cho ý cung kính thận trọng.

Ngoài điều này, trong Thanh Long Tự Nghi Quỹ cũng nói: “Kết Ấn để giao tiếp thì cầu niệm chư Phật gia bị, ắt có thể được Tất Địa”

Ngoài ra trong Kinh nói: “Lúc kết Khế Ấn thời chẳng nên ở chỗ hiển lộ”. Như Đà La Ni Tập Kinh, quyển Trung nói: “Người tác An Chú Pháp ở chỗ lộ thiên sẽ bị Quỷ Thần ác được dịp thuận tiện gây hại”

Lại nói: “Ở trước tượng Bản Tôn, tác Ấn thì nên dùng Cà Sa hoặc cái khăn sạch che trùm lên trên”

Bởi thế ở Nhật Bản, Đông Mật thông thường kết Ấn ngay trong Cà Sa hoặc trong ống tay áo của Pháp Y (áo Pháp). Chỉ có Đài Mật thời không có điều này

 


TÊN GỌI RIÊNG CHO MƯỜI NGÓN TAY Mật Giáo thường gọi hai bàn tay là hai Vũ, Nhật Nguyệt Chưởng, hai Chưởng. Hoặc đem hai tay phối trí với Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới, hoặc Định và Tuệ, hoặc Lý và Trí. Còn mười ngón tay thì gọi là: Thập Độ, Thập Luân, Thập Liên, Thập Pháp Giới, Thập Chân Như, Thập Phong (10 ngọn). Hoặc đem năm ngón tay phối trí với năm Uẩn, năm Phật Đỉnh, năm Căn, năm chữ, năm Đại... _Tay phải: Tuệ. Ngoài ra còn có tên gọi là: Nhật, Quán, Trí, Trí, Thật, Hiển, Ngoại, Bát Nhã, Bi Niệm, Kim Cương Giới

tay thủ ấn căn đồng số lính

 

Ngón cái: Trí, Không, chữ KHA (几). Ngoài ra còn có tên gọi là: Thức, Luân, Tuệ, Thiền, chữ KHAṂ (丈) Ngón trỏ: Lực, Phong, chữ HA (祌). Ngoài ra còn có tên gọi là: Hành, Cái, Định, Tiến, chữ HŪṂ (猲) Ngón giữa: Nguyện, Hỏa, chữ RA (捖). Ngoài ra còn có tên gọi là: Tưởng, Quang, Niệm, Nhẫn, chữ RA (捖) Ngón vô danh: Phương, Thủy, chữ VA (砉). Ngoài ra còn có tên gọi là: Thọ, Cao, Tiến, Giới, chữ VI (合) Ngón út: Tuệ, Địa, chữ A (唒). Ngoài ra còn có tên gọi là: Sắc, Thắng, Tín, Đàn, chữ A (唒)

Tay trái: Định. Ngoài ra còn có tên gọi là: Nguyệt, Chỉ, Phước, Lý, Quyền, Tùng, Nội, Tam Muội, Từ Niệm, Thai Tạng Giới

tay bấm khuyết căn đồng số lính

Ngón cái: Thiền, Không, chữ KHA (几). Ngoài ra còn có tên gọi là: Thức, Luân, Tuệ, Trí, chữ KHAṂ (丈)

Ngón trỏ: Tiến, Phong, chữ HA (祌). Ngoài ra còn có tên gọi là: Hành, Cái, Định, Lực, chữ HŪṂ (猲)

Ngón giữa: Nhẫn, Hỏa, chữ RA (捖). Ngoài ra còn có tên gọi là: Tưởng, Quang, Niệm, Nguyện, chữ RA (捖)

Ngón vô danh: Giới, Thủy, chữ VA (砉). Ngoài ra còn có tên gọi là: Thọ, Cao, Tiến, Phương, chữ VI (合)

Ngón út: Đàn, Địa, chữ A (唒). Ngoài ra còn có tên gọi là: Sắc, Thắng, Tín, Tuệ, chữ A (唒)


 

THỦ ẤN CĂN BẢN CỦA MẬT GIÁO

Thủ Ấn của Mật Giáo có rất nhiều. Thông thường dùng 12 loại Hợp Chưởng (chắp tay) và 5 loại Quyền (nắm tay) làm An căn bản

12 loại Hợp Chưởng:

 

 

1. Kiên Thật Hợp Chưởng (tên Phạn là Nivida): 

Chắp tay lại, lòng bàn tay dính chặt nhau, mười ngón tay hơi lìa nhau

 

2. Hư Tâm Hợp Chưởng (tên Phạn là Sampuṭa):

mười ngón tay bằng nhau, cùng hợp đầu ngón, tâm bàn tay hơi mở

3. Vị Phu Liên Hoa Hợp Chưởng (tên Phạn là Kuḍmala):

Như lúc trước, bên trong lòng bàn tay để trống rỗng, hơi cong lại

4. Sơ Cát Liên Hoa Hợp Chưởng (tên Phạn là Bhagna):

Hai Địa (2 ngón út), hai Không (2 ngón cái) cùng dính nhau, sáu ngón còn lại hơi mở, tức là Bát Diệp Ấn vậy

 

5. Hiển Lộ Hợp Chưởng (tên Phạn là: Uttānaja):

Ngửa hai lòng bàn tay đặt cạnh nhau rồi hướng lên trên.

 

6. Trì Thủy Hợp Chưởng (tên Phạn là Ādhāra):

Cùng ngửa hai lòng bàn tay, đầu ngón dính nhau, hơi co hợp lại như thế bụm nước, giống Ẩm Thực Ấn vậy

7. Quy Mệnh Hợp Chưởng (tên Phạn là Praṇāma):

Chắp tay lại, đầu mười ngón tay cài chéo nhau, bên phải đè bên trái như Kim Cương Hợp Chưởng vậy

8. Phản Xoa Hợp Chưởng (tên Phạn là Viparīta):

Đem tay phải dựa vào tay trái, ngược lòng bàn tay, mười đầu ngón tay cùng giao nhau, cũng đem ngón tay phải đè trên ngón tay trái.

9. Phản Bối Hỗ Tương Trước Hợp Chưởng (tên Phạn là Vīparyasta):

Đem tay phải ngửa trên tay trái, tay trái che ngay bên dưới tay phải, gần như Định Ấn

10. Hoành Trụ Chỉ Hợp Chưởng (tên Phạn là Tiryak):

Ngửa hai lòng bàn tay, khiến hai đều ngón giữa cùng tiếp chạm nhau

11. Phúc Thủ Hướng Hạ Hợp Chưởng (tên Phạn là Adhara):

Úp hai lòng bàn tay xuống, cũng đem hai ngón trỏ cùng tiếp chạm nhau

12. Phúc Thủ Hợp Chưởng (tên Phạn là Adhara):

Cùng úp hai bàn tay xuống, , hai ngón cái cùng tiếp chạm nhau, hướng mười đầu ngón tay ra bên ngoài



 

Năm loại Quyền là:

1. Liên Hoa Quyền (tên Phạn là Padma-muṣṭi):

Lại biểu thị cho Thai Quyền là loại Ấn thường dùng làm Ấn Mẫu của Thai Tạng Bộ. Tướng của Ấn ấy là nắm 4 ngón từ ngón cái trở xuống, đem ngón cái đè bên cạnh lóng giữa của ngón trỏ.

2. Kim Cương Quyền (tên Phạn là Vajra-muṣṭi):

Chủ yếu được dùng trong Kim Cương Đỉnh Bộ. Tướng của Ấn ấy là: đem ngón giữa, ngón vô danh, ngón út nắm ngón cái. Đem ngón trỏ đặt trên lưng ngón cái

 

3. Ngoại Phộc Quyền:

Chắp tay lại, cài chéo mười ngón tay như Kim Cương Hợp Chưởng rồi nắm lại thành Quyền.

 

4. Nội Phộc Quyền:

Cài chéo mười ngón tay bên trong lòng bàn tay rồi nắm lại thành Quyền

 

5. Phẫn Nộ Quyền (tên Phạn là Krodha-muṣṭi):

Tay phải co ngón giữa ngón vô danh, duỗi thẳng ngón trỏ ngón út, rồi đem ngón cái đè lưng lóng thứ nhất của ngón giữa


SÁU THỦ ẤN THƯỜNG GẶP

 


1. Thí Vô Úy Ấn:

Tay phải cong khuỷu tay hướng về phía trước, duỗi năm ngón tay, hướng lòng bàn tay về phía trước. Biểu thị cho việc chư Phật Bồ Tát ban cho chúng sinh sự không có sợ hãi



2. Dữ Nguyện Ấn:

Duỗi lòng bàn tay hướng ra ngoài, rũ đầu ngón tay xuống dưới. Biểu thị cho việc chư Phật Bồ Tát dùng Tâm Từ Bi độ khắp chúng sinh



3. Thiền Định Ấn:

Đây là Thủ Ấn mà Đức Phật đã kết khi nhập vào Thiền Định. Ngửa bàn tay trái ngay trên bắp đùi, cùng ngửa bàn tay phải để bên trên lòng bàn tay trái, hai đầu ngón cái cùng tiếp chạm nhau. Lại xưng là Pháp Giới Định Ấn



4. Xúc Địa Ấn:

Duỗi bàn tay phải úp che đầu gối phải, đầu ngón tay tiếp chạm mặt đất. Lại xưng là Giáng Ma Ấn, đây là Thủ Ấn mà Đức Phật đã kết khi thành Đạo.



5. Chuyển Pháp Luân Ấn:

Hai tay để ở trước ức ngực, lòng bàn tay phải và lòng bàn tay trái cùng ngược nhau. Tay phải đem ngón cái vịn đầu ngón vô danh, duỗi ba ngón còn lại. Tay trái co ngón trỏ vịn vào mặt lóng thứ nhất của ngón cái, duỗi thẳng ba ngón còn lại



6. Trí Quyền Ấn:

Hai tay kết Kim Cương Quyền. Quyền phải duỗi thẳng ngón trỏ phải. Quyền trái nắm ngón giữa của quyền phải.


 

 

Nguồn: Soạn dịch: HUYỀN THANH