Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh

06/07/2017 15:35

Quan lớn đệ ngũ còn gọi là Quan lớn Tuần Tranh là Tôn quan thứ 5 trong Ngũ vị Tôn ông. Nhiệm vụ của Ngài là thống quản nhân gian, thống lĩnh thiên âm binh. Sắc phong “Đệ ngũ Tôn quan Thượng đẳng Tối linh thần – Cao Lỗ Đại vương – Đệ ngũ Tuần Tranh”

 

✿ Cơ bản về Đạo Mẫu ✿

 

 

+ Ngày 14/2: Tiệc Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh

 

Ngài là con trai của Vua Cha Bát Hải Đồng bằng giáng hạ trần gian làm vị tướng quân tài ba kiêm quản thủy bộ, được giao quyền trấn giữ duyên hải sông Tranh. Ngài được phong làm Công hầu. Số trời đã định, Ngài có cảm tình với người thiếu nữ xinh đẹp là vợ lẽ của một viên quan, nàng cũng đáp lại tình cảm của Ngài nhưng không cho Ngài biết là đã có chồng. Khi viên quan kia biết chuyện, vu cho ông tội quyến rũ vợ mình. Ông bị hàm oan và bị đày lên chốn Kì Cùng Lạng Sơn. Tại đây Ngài đã tuẫn tiết để chứng minh sự trong sáng của mình. Dải lụa đào tuẫn tiết đó biến thành đôi bạch xà bơi xuôi về quê hương Ninh Giang.

 

 

 

 

Ở Ninh Giang có ông bà già nọ không con một hôm đi ra sông bắt được 2 rắn đem về nhà nuôi, yêu quý như con, hai rắn ăn nhiều không xuể, ông bà phải đi ăn trộm thức ăn của hàng xóm để nuôi hai bạch xà. Quan phủ biết chuyện, bắt ông bà lên chịu tội, ông bà đành thú thực tường khai, Quan đòi giết rắn, ông bà thương quá cãi lệnh quan, đánh liều thả rắn ra dòng sông Tranh, từ đó chỗ thả rắn tạo thành dòng xoáy dữ dội, thuyền bè qua đó đắm vô số.

 

Đến đời Thục Phán, vua tập hợp binh lính chống giặc  phải đi qua sông Tranh, nhưng tới đó không thể nào qua nổi, Vua gọi lão làng tới cầu đảo, Ngài ứng hiện lên nói rõ sự tình xưa và nói sẽ phù Vua đánh giặc. Khi dẹp xong, Vua về giải oan cho Ngài, phong cho Ngài là “Giảo Long Hầu” Ngài cũng chính là tướng quân Cao Lỗ, người giúp vua Thục Phán hộ quốc an dân, chế tạo nỏ thần và dựng Thành Cổ Loa.

 

Trong các vấn hầu, Ngài đều giáng ngự, Ngài mặc áo đai mạng màu lam, tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp, lễ vật rồi múa thanh long đao.

 

 

Đền chính của quan là đền Tuần Tranh ở Ninh Giang Hải Dương và đền Kì Cùng ở Lạng Sơn.

Ngài là con trai của Vua Cha Bát Hải Đồng bằng giáng hạ trần gian làm vị tướng quân tài ba kiêm quản thủy bộ, được giao quyền trấn giữ duyên hải sông Tranh. Ngài được phong làm Công hầu. Số trời đã định, Ngài có cảm tình với người thiếu nữ xinh đẹp là vợ lẽ của một viên quan, nàng cũng đáp lại tình cảm của Ngài nhưng không cho Ngài biết là đã có chồng. Khi viên quan kia biết chuyện, vu cho ông tội quyến rũ vợ mình. Ông bị hàm oan và bị đày lên chốn Kì Cùng Lạng Sơn. Tại đây Ngài đã tuẫn tiết để chứng minh sự trong sáng của mình. Dải lụa đào tuẫn tiết đó biến thành đôi bạch xà bơi xuôi về quê hương Ninh Giang. Ở Ninh Giang có ông bà già nọ không con một hôm đi ra sông bắt được 2 rắn đem về nhà nuôi, yêu quý như con, hai rắn ăn nhiều không xuể, ông bà phải đi ăn trộm thức ăn của hàng xóm để nuôi hai bạch xà. Quan phủ biết chuyện, bắt ông bà lên chịu tội, ông bà đành thú thực tường khai, Quan đòi giết rắn, ông bà thương quá cãi lệnh quan, đánh liều thả rắn ra dòng sông Tranh, từ đó chỗ thả rắn tạo thành dòng xoáy dữ dội, thuyền bè qua đó đắm vô số. Đến đời Thục Phán, vua tập hợp binh lính chống giặc  phải đi qua sông Tranh, nhưng tới đó không thể nào qua nổi, Vua gọi lão làng tới cầu đảo, Ngài ứng hiện lên nói rõ sự tình xưa và nói sẽ phù Vua đánh giặc. Khi dẹp xong, Vua về giải oan cho Ngài, phong cho Ngài là “Giảo Long Hầu” Ngài cũng chính là tướng quân Cao Lỗ, người giúp vua Thục Phán hộ quốc an dân, chế tạo nỏ thần và dựng Thành Cổ Loa. Trong các vấn hầu, Ngài đều giáng ngự, Ngài mặc áo đai mạng màu lam, tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp, lễ vật rồi múa thanh long đao. Đền chính của quan là đền Tuần Tranh ở Ninh Giang Hải Dương và đền Kì Cùng ở Lạng Sơn.

 




 

Văn QUAN ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH

 

Trong khi thỉnh ông về, văn thường hát:

 

“Uy gia lẫm liệt tung hoành

Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài

Ninh Giang chính quán quê nhà

Dấu thiêng ghi để ngã ba Kì Cùng”

 

Hay nói về nỗi oan của ông, văn hát sử oán rằng:

 

“Nào ngờ đâu đất trời thay đổi

Người anh hùng mang tội xiềng gông

Tháng năm đày chốn Kì Cùng

Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân

Trước cung điện triều đình tra xét

Bắt long hầu truyền hết mọi nơi

Oan vì bướm lả ong lơi

Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung

Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt

Nỗi oan này có thấu cao minh

Áo bào đã nhuộm chàm xanh

Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường”

 

Hoặc có cả những đoạn ca ngợi công lao, tài đức của ông:

 

“Loa đồng hỏi nước sông Tranh

Đao thiêng dẹp giặc, anh hùng là ai

Sông Tranh đáp tiếng trả lời

Anh hùng lừng lẫy là người Ninh Giang”

 

Còn khi quan ngự đồng, khai quang chứng sớ điệp, ra oai giúp dân trừ tà thì văn hát rằng:

 

“Ông về truyền phán các quan

Tả cơ hữu đội lưỡng ban đáo đàn

Quân thuỷ quân bộ đôi hàng

Chư binh vạn mã hằng hà kéo ra

Lệnh truyền thiên đội vạn cơ

Quan Tuần bây giờ trắc giáng anh linh

Trước là bảo hộ gia đình

Sau ra thu tróc tà tinh phen này

Ra oai trần thế biết tay

Ngự lên đồng tử cứu rày nhân gian

Cứu đâu thời đấy khỏi oan…”

Văn QUAN ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH Trong khi thỉnh ông về, văn thường hát: “Uy gia lẫm liệt tung hoành Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài Ninh Giang chính quán quê nhà Dấu thiêng ghi để ngã ba Kì Cùng” Hay nói về nỗi oan của ông, văn hát sử oán rằng: “Nào ngờ đâu đất trời thay đổi Người anh hùng mang tội xiềng gông Tháng năm đày chốn Kì Cùng Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân Trước cung điện triều đình tra xét Bắt long hầu truyền hết mọi nơi Oan vì bướm lả ong lơi Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt Nỗi oan này có thấu cao minh Áo bào đã nhuộm chàm xanh Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường” Hoặc có cả những đoạn ca ngợi công lao, tài đức của ông: “Loa đồng hỏi nước sông Tranh Đao thiêng dẹp giặc, anh hùng là ai Sông Tranh đáp tiếng trả lời Anh hùng lừng lẫy là người Ninh Giang” Còn khi quan ngự đồng, khai quang chứng sớ điệp, ra oai giúp dân trừ tà thì văn hát rằng: “Ông về truyền phán các quan Tả cơ hữu đội lưỡng ban đáo đàn Quân thuỷ quân bộ đôi hàng Chư binh vạn mã hằng hà kéo ra Lệnh truyền thiên đội vạn cơ Quan Tuần bây giờ trắc giáng anh linh Trước là bảo hộ gia đình Sau ra thu tróc tà tinh phen này Ra oai trần thế biết tay Ngự lên đồng tử cứu rày nhân gian Cứu đâu thời đấy khỏi oan…”

 

 

Nguồn: Sưu Tầm