Hiểu đúng về nhà Trần - Thờ nhà Trần - Hầu nhà trần

23/03/2017 15:35

Nhà Trần không phải một phủ. Sự sắp xếp nhà Trần theo gia đình chứ không theo chức tước, hàng bậc như trong Tứ phủ: có vua Mẫu, các Quan, Chúa, Chầu, ông Hoàng, thánh Cô, thánh Cậu.

Nhà Trần không phải một phủ. Sự sắp xếp nhà Trần theo gia đình chứ không theo chức tước, hàng bậc như trong Tứ phủ: có vua Mẫu, các Quan, Chúa, Chầu, ông Hoàng, thánh Cô, thánh Cậu.

 

 

Tất cả nhà Trần, lục bộ thánh ông đều được phong tước, ngự áo đỏ, riêng cô Đại Hoàng ngự áo vàng, cô Thái Bình ngự áo xanh. Đức đại vương tuyệt đối không lên đai thượng, không múa long đao, đi cờ kiếm từ vào hè trở đi, còn mùa xuân khai đền Ngài đi cờ hồng bằng khăn phủ diện. Đức đại vương không xuyên lình lấy dấu máu. Người thủ nhang đồng đền có căn mới được hầu Ngài chứ không như bây giờ thích hầu là hầu, thật là lỗi đạo, không có phép tắc gì cả.

 

Hiện nay có người nói là chỉ có sáu vị hầu mà thôi là Đức đại vương, Đức ông đệ tam, cô Đệ nhất, cô Đệ nhị, cô Cửa Suốt, cậu Cửa Suốt. Điều đó thật là nhố nhăng và vô căn cứ. Điều này rất tai hại cho tục thờ nhà Trần. Cứ nghĩ rằng lục bộ là sáu giá, nhưng lục bộ ở đây là lục bộ Đức thánh ông, sáu tướng phù giúp Đức đại vương. Họ cho rằng cô Cửa Suốt là cháu Đức đại vương nhưng cô là người chở thuyền và dắt ngựa cho Đức ông đệ tam. Cậu biển Đông là cháu của Đức đại vương nhưng làm gì có cậu biển Đông. Cậu chỉ là cậu bé bản đền hầu Mẫu ở đền Cửa Ông. Điều nhầm tưởng đến nực cười và lố bịch là người ta quy cô bé cậu bé vào nhà Trần và hầu như hầu Tứ phủ. Giá như có cô bé cậu bé nhà Trần thì các đền các phủ phải thờ cùng, đằng này chẳng một nơi đền thờ điện cổ thờ hai vị này cả. Nếu có đi nữa thì không thể lấy theo tên của Đức ông Cửa Suốt mà là cô Thiên Trường, cậu Bảo Lộc mới đúng. Thực ra hai vị này chỉ là tùy tòng của Đức ông đệ tam không thuộc hệ thống chính của nhà Trần, chỉ được hầu ở vùng Đông Bắc Quảng Ninh. Do thiếu hiểu biết mà truyền bá lung tung. Chúng ta cũng phải hiểu rõ nhà Trần không phải là 1 phủ nên không có Chúa, Chầu, ông Hoàng, cô bé, cậu bé. Cô đệ nhất, cô đệ nhị là theo tên gọi trong gia đình chứ không phải theo tên gọi của Tứ phủ.

 

Hầu nhà Trần riêng biệt, không phải tráng bóng Tam tòa thánh Mẫu. Hầu nhà Trần đều đi cờ kiếm gọi là cờ kiếm lệnh vua ban “đánh đông dẹp bắc cho an nước nhà”. Chỉ có mình Đức ông phò mã là Điện tiền tướng quân, tức tướng tiên phong, Ngài mới đi chấp kích hoặc đao.

 

Hiện nay ở đền Kiếp Bạc, Bảo Lộc, đền Trần cho hầu đồng, thậm chí còn thi đồng đều cho hầu cả Tứ phủ. Điều đó là điều kỵ ở các cửa đền nhà Trần. Tôi cũng không hiểu các vị già làng bô lão cũng như các vị đồng thày, đáng trách hơn là các vị làm văn hóa, một di tích quốc gia mà lại làm sai như vậy. Nực cười thay lại tổ chức trình UNESCO công nhận di sản văn hóa trong khi đó chính bản thân các vị chưa hiểu và nghiên cứu chỉn chu nghiêm túc về đồng bóng. Ở Kiếp Bạc, sau khi hầu nhà Trần phải sang bên Nam Tào Bắc Đẩu để hầu Tứ Phủ. Ở Bảo Lộc thì ra hầu Tứ phủ ở ngoài. Tôi đi rất nhiều nơi nhưng nay thấy mẫu ở Đại Lộ là vẫn giữ nguyên lối thờ cổ và lối hầu về nhà Trần mà thôi. Hiện nay người ta hầu nhà Trần chung với Tứ phủ rất lộn xộn.

 

Nhà Trần thuộc dòng tam phủ: thiên, địa, thoải nên không phỉa mở phủ, nười có căn nhà Trần chỉ cần làm lễ đội lệnh nhà Trần là hầu được, trước nhất chỉ hầu cô đệ nhị Đại Hoàng mà thôi. Quy định 3 năm mới được hầu nhà Trần là sai. Quy định này do cảm hứng tự bịa của các ông đồng bà đồng, vốn dĩ họ chưa nắm chắc các hàng giá nhà Trần thì làm sao mà biết quy định.

 

Người đội lệnh nhà Trần trước khi mở phủ phải được đội lệnh tại điện thờ nhà Trần, hầu tráng bóng các vị sau đó mới xuống phủ hầu, đến khi hầu tạ là được phép hầu cô đệ nhị Đại Hoàng, từ đó trở đi được hầu Đức thánh ông khác nhưng không được hầu Đức đại vương.

 

Các quy định mà trở thành buôn bán như bây giờ ở các đền Bảo Lộc, Kiếp Bạc là cấp sắc thanh đồng, người nào cũng đến xin sắc. Tôi không hiểu họ xin về để làm gì. Trước đây các vị nào muốn thờ nhà Trần, muốn hầu nhà Trần thì phải mời pháp sư thảo sắc để vào trong 1000 vàng đại thiếc. Đạo trưởng hầu chư vị đức ông về lấy tay đập nát 1000 vàng ra lấy sắc, pháp sư tuyên đọc sau đó Ngài phê sắc, đặt tên đền điện, đóng dấu cất ấn. Còn bây giờ thì quá lộn xộn. Tâm linh mỗi người một vẻ nhưng tôi khuyên các vị dừng ngay mà phải hiểu đúng lý chứ đừng nghe bọn buôn thần bán thánh mà rước họa vào thân.

 

Nhà Trần không phải một phủ vì vậy nhà Trần không ai phải trả mã cũng không ai nợ mã nhà Trần cả. Tất cả dâng lễ nhà Trần chỉ có hình thức tiến cúng vàng mã mà thôi. Có thể là chục vàng lá, trăm vàng đại thiếc hoặc có thể là tiểu đàn, trung đàn, đại đàn. Mà tôi cũng nói thẳng là các vị đồng cổ và đồng thày của các thày đồng bây giờ cũng chưa trả mã nhà Trần vì làm gì có mã mà phải trả. Nếu có nó đã là đường mòn phải nhớ ngay, đằng này đều đếm xem bao nhiêu giá rồi phán lung tung không theo quy định nào cả.

 

Người có căn nhà Trần mới đội lệnh nhà Trần. Người Đinh Nhâm Quý Giáp, người có căn Ngọc Hoàng cầm mệnh, Ngũ vị Tôn quan, lục bộ khâm sai ???. Người hầu nhà Trần đều lập điện lập tĩnh để thờ và chủ yếu là những vị kim chi đôi nước trừ tà trị bệnh cấp sắc làm dấu làm bùa.

Vì vậy hiện nay tất cả những người đồng bóng đều hầu nhà Trần và người ta gọi một cách vô học là “mở phủ nhà Trần”.

Trên đây là một số hiểu biết mà hàng trăm năm nay của chư vị tổ sư cũng như các chư tổ tôi truyền lại vì vậy rất mong chư vị hiểu được, đi theo đúng đường lối, đừng vì cái lộc cái tài mà quên đi nguyên tắc, bất chất mọi lời nói tốt đẹp mà đi theo cái mê hoặc của bọn tà ma buôn thần bán thánh mê tín dị đoan, tài lộc chẳng thấy đâu, chỉ thấy con cháu tù tội, trộm cướp, nghiện hút, rược họa vào thân muôn đời chịu nghiệp.

 

Vàng mã nhà Trần không được quy định như bốn phủ vì không có nợ hay mở phủ nhà Trần. Chỉ cần chục vàng lá, trăm vàng đại thiếc là hành lễ được. Nếu tiến cúng nhà Trần để xin binh xin quyền thì có 3 đàn để tiến cúng

• Đàn tiểu: dâng từ 1 đến 6 ngựa đỏ (1 Đức đại vương, 4 vị hoàng tử, 1 Đức ông phò mã)

• Đàn trung: 6 đến 8 ngựa đỏ, 1 kiệu rồng 1 voi vàng hoặc trắng, 1 thuyền rồng đỏ, 60 người lính năm phương năm màu (1 ngựa, 1 voi, 1 kiệu dâng Đức ông; 4 ngựa dâng Tứ vị hoàng tử, 2 ngựa dâng Đức ông tả hữu,1 ngựa dâng Đức ông phò mã, thuyền rồng dâng cô Đệ nhị Đại Hoàng)

• Đàn đại: ngũ phương binh tướng (ngũ phương binh lực), Đức đại vương dâng 1 long mã đỏ, 1 thuyền rồng đỏ, 1 kiệu vàng, 1 bạch tượng; Tứ vị hoàng tử dâng 4 ngựa đỏ, 4 voi vàng, 4 thuyền rồng; Đức ông phò mã dâng 1 ngựa đỏ; Đức ông tả Yết Kiêu dâng 1 ngựa đỏ, Đức ông hữu Dã Tượng dâng 1 voi đen; cô Đệ nhất 1 xe loan; cô Đệ nhị 1 phượng cát, 1 thuyền rồng vàng, 1 voi vàng; Lục bộ binh tướng khâm sai dâng 6 tướng cưỡi ngựa đỏ cắm cờ năm màu. Đông phương 12 đội quân, mỗi đội 12 lính mặc áo xanh cưỡi ngựa cầm kiếm, 1 vị tướng cưỡi ngựa đứng đầu cắm cờ xanh. Nam phương màu tím, Bắc phương màu đỏ, Tây phương màu trắng, Trung phương màu vàng, Tiền binh màu đỏ, Hậu binh màu đen, tất cả đều số lượng như trên. Ngoài ra ở Trung phương còn thêm 6 đội binh (12 quân) cầm trung tiễn, 6 đội quân cầm giáo, 6 đội quân cầm kiếm, 1 tướng cưỡi ngựa vàng cắm cờ vàng; Nam phương các binh đều cưỡi voi đen và 1 tướng đi đầu cưỡi voi đen cắm cờ đen; Bắc phương các tướng ẩn xe hỏa và bắn pháo, đi đầu là xe ngựa trên có lốt tướng cắm cờ đỏ; Tây phương các binh đứng trên thủy xa, mỗi tướng đứng trên thuyền rồng trắng cắm cờ trắng; Tiền binh mỗi đội đều gồm 4 xe ngựa, trên mỗi xe 3 lính, 1 tướng ngồi trên xe; Hậu binh các đội đều cưỡi ngựa, 1 tướng ngồi trên ngựa cắm 5 loại cờ. Ba đội binh thượng Nùng, Tày, Mường mỗi đội gồm 6 tiểu đội đi thuyền độc mộc, 6 tiểu đội đi mảng, 6 tiểu đội cưỡi ngựa, 6 tiểu đội bộ binh, 5 lốt tướng giả hổ (đầu hổ mình người), 100 cờ lệnh các màu, 3 mũ Bình thiên tam phủ, 1 mũ Ngọc Hoàng vàng, Nam Tào tím, Bắc Đẩu đỏ, 1 hành khiển, 1 hành binh (màu sắc tùy theo năm đó), mũ đương cảnh thành hoàng (tùy địa phương), mũ Đức ông, Tứ vị hoàng tử, Đức ông phò mã, Lục bộ đức thánh (tất cả đều màu đỏ), 1 mũ thày văn đỏ, 1 mũ thày võ đỏ, 3 mũ phượng màu đỏ, vàng, vàng dâng Vương phi va 2 cô, 17 mũ quan văn, 17 mũ quan võ các màu, 36 mũ rừng man di bộ tướng, 36 cờ tiễn thêu rồng, 36 cờ thần để không, 8 cờ bát quái in các quẻ, 5 cờ ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ, 5 cờ hỏa tiễn năm màu thêu chữ “lệnh”, 36 cờ khải hoàn thêu chữ “thái bình”.

Trên đây là mã tối thiểu đến tối đa dâng nhà Trần, ngoài ra còn thêm 100 xe lương, 100 kho lương, 100 núi vàng.

 

1. Lễ cầu an dân quốc

Tiến lễ - Dân tự cầu lễ

Trung lễ - Quan dân cùng làm lễ

Đại lễ - Toàn vua, quan, dân chúng làm lễ

2. Lễ bảo an gia đình

Xin bùa dấu trấn tà trị bệnh

3. Lễ tam phủ đối kháng giải nghiệp

Giải nghiệp ngục tù báo trướng bệnh hạn, vận hạn…

Trước đó:

- Lễ phát tấu

- Lễ phật

- Tụng kinh

- Lễ nhà Trần

- Lễ Mẫu

- Lễ hạ ban Ngũ hổ và các quan

 

Lễ tam phủ đối kháng như sau:

Thiên phủ tức “thanh thiên” trời xanh

Địa phủ tức “bạch địa” đất trắng

Thủy phủ tức “xích thủy” nước đỏ

Tự nhiên trời là xanh, tính trong của đất là trắng, cốt huyết của thủy là đỏ, vì vậy ở đây tất cả phủ thiên là màu xanh, phủ địa màu trắng, phủ thoải màu đỏ.

Mỗi phủ 3 quyển vở, 3 cái bút, 3 cái gương, 3 cái lược, 3 cái quạt, 3 quả cau, 1 đĩa hoa, 1 đĩa gạo muối, 1 đĩa tiền, 1 bao thuốc, 1 lạng chè, 1 bao diêm, 1 lọ nước hoa, 3 khăn mặt bông, 1 bó đuốc, 5 nén hương phủ, 9 hoặc 7 quả trứng thuộc vía, 1000 vàng đại, 1000 vàng tiểu, 1 cầu giấy, 1 gáo, 1 chum, 1 bát con, 1 cây trồng, 1 con chim trắng (thiên phủ) gà trắng (địa phủ) cá chép (thoải phủ), 1 cờ xanh (thiên phủ) cờ trắng (địa phủ) cờ đỏ (thoải phủ). Mỗi phủ đều có 1 cành phan, 1 dao, 1 kéo, 1 ngọn đèn dầu.

Pháp sư làm lễ (không có đạo trưởng dẫn trình).

Sau khi pháp sư làm lễ ??? khi lễ đến thiên phủ thì pháp sư xin đài cài cờ thiên phủ vào gáy rồi dùng kiếm lệnh khai phủ. Lấy một quả trứng, dùng kéo cắt hai đầu xoắn, sau đó bóc trứng ra đặt vào bát con rồi lấy hương thả vào bát, lấy gáo múc nước tưới vào trứng 3 lần, miệng đọc khẩu quyết: “Thỉnh thiên phủ cắt dây cởi trói, cắt giải oan khiên nghiệp chướng cho sinh nhân …… tuổi ……. được thần khí lai hoàn, bản mệnh khang cường, phúc thọ khang ninh. Nguyện chú các linh hồn oan gia cừu thù tiên tổ tốc thoát tà ma siêu sinh cực lạc. Nam mô giải oan kết bồ tát ma ha tát. Nam mô hoan hỉ bố tát ma ha tát”.

Đốt đuốc phóng lên thiên phủ. Pháp sư dùng kéo cắt dây hình nhân thiên phủ, dùng gương lược, hương, khăn mặt, quạt khai quang phủ thiên và hình nhân cho trồng cây thiên phủ báo ân, tha chim giải nghiệp. Cho sinh nhân uống nước thiên phủ và rửa mặt.

Phủ địa và thoải cũng làm như vậy.

Sau khi hết ba phủ thì thỉnh lễ nhà Trần. Pháp sư dùng kéo cắt dây cởi trói hình nhân bản mệnh, khai quang làm lễ. Pháp sư khai quang ngựa mã sau đó hỏa hóa kim ngân tài mã.

Thày đại tấu dẫn trình

Sau khi pháp sư cúng thỉnh các khoa giáo thì thầy đại tấu thay xiêm y vào hành đạo. Trước khi hành đạo dùng dây vải buộc tay các hình nhân thiên địa thoải vào nhau, cắt 1 áo vải trước viết chữ “tù” sau viết chữ “ngục”, đằng trước bên phải viết họ tên, tuổi, ngày sinh, giờ sinh của sinh nhân. Đặt sinh nhân nằm ngửa mặt, đầu quay vào đền, chân ra cổng, trói sinh nhân chéo vòng cổ sang hai tay. Xung quanh hình nhân là 7 hoặc 9 đĩa sành úp, trên đầu hình nhân là 3 ngọn đèn dầu. Trước 3 ngọn đèn dầu là 1 chum nước bịt giấy, trên chum nước úp 1 chiếc đĩa sành, bên cạnh là chiếc áo của sinh nhân. Để 1 cái ghế ngang chum nước phía tay phải nhìn từ ngoài vào trong. Thày đại tấu hầu tráng bóng 3 giá Mẫu, sau đó hầu Đức đại vương hoặc tứ vị hoàng tử. Ngài về làm lễ khai quang kiểm soát đầu phủ. Chừng xa loan giã ngự long mã, bạch tượng. Sau đó Ngài ngự ghế nghe tuyên trạng rồi Ngài phê trạng ký sổ. Ngài dùng 3 hiến hương thư vào chum “tứ trung ngũ hành” và chữ “tâm” sau đó dùng kiếm hất đĩa xuống sao cho đĩa vẫn úp. Ngài dùng chân dẫm tan đĩa, dùng kiếm khai giếng ngọc (giếng sinh nhân để cải tử hoàn sinh chứ không phải giếng phủ). Ngài lấy nước vẩy vào hình nhân và cho sinh nhân uống, rửa mặt. Sau đó xe giá hồi cung. Cô đệ nhị Đại Hoàng về chứng lễ chứng sớ long mã, bạch tượng; dùng kéo cắt bỏ dây bỏ dây trói tù ngục của người hình nhân bản mệnh.

Quan đệ nhất về khai quang chứng voi xanh, ngựa xanh, thuyền xanh. Ngài ngự vào ghế bên phải pháp sư tuyên trạng kể tội, phê sớ giải nghiệp, sau đó lấy cờ thiên phủ cắm vào gáy, dùng kiếm khai thiên phủ làm như pháp sư. Chỉ có khẩu quyết là pháp sư cung văn đọc, tứ trụ kêu. Ngài ra chỗ hình nhân bản mệnh dùng kiếm thư vào 2 hoặc 3 đĩa úp cạnh hình nhân chữ tâm, rồi dùng chân dẫm tan đĩa. Ngài hô to một tiếng “thừa lệnh thiên phủ khai phá thiên ngục giải thoát sinh nhân bất đắc cừu đình cấp như luật lệnh”. Sau khi phá ngục, thắp một ngọn đèn dầu khai quang, lấy nước vẩy vào người hình nhân thiên phủ và bản mệnh, rồi cho sinh nhân rửa mặt và uống 3 ngụm.

Quan đệ nhị, đệ tam cũng vậy.

Quan tuần về làm lễ khai quang dùng chuôi dao hất hình nhân bản mệnh nằm sấp, rồi dựng hình nhân lên quay mặt vào cung thờ. Ngài cầm kéo cắt áo ngục tù, lấy gương, quạt, hương khai quang. Ngài lấy nước tam phủ cho sinh nhân uống, lấy nước rửa mặt, lấy lược chải tóc hoàn hồn, lấy áo cho sinh nhân mặc cho yên bản mệnh. Đưa hình nhân bản mệnh vào lễ tam phủ, sau đó lạy thiên địa thoải. Các quan tiễn đàn.

Nếu đồng nhân xin thuốc Tứ phủ thì hầu chầu Lục, ông Bảy, cô Đôi, cô Bơ, cô Sáu, cô Chín, cô Bé. Cô Đôi hái thuốc, cô Bơ lấy nước, cô Sáu sao thuốc, cô Chín làm thang, cô Bé phù chú. Nếu cầu duyên thì hầu chầu Đệ tam, ông Bơ, cô Bơ, cô Chín. Nếu cầu tài lộc thì hầu chầu Đệ nhị, ông Mười, cô Bơ, cô Bé.

Chú ý các cờ thiên phủ, địa phủ, thoải phủ sau khi làm lễ giải xong thì cắm vào gáy các hình nhân.

Phê sổ thì pháp sư phê như sau “Phật pháp tăng Ngọc Hoàng sắc chỉ. Thiên phủ lệnh hành (địa phủ, thoải phủ) giải oan giải oan kết”. Sau đó quan lớn Ngài phê chứ “ứng” và đè lên là chữ “tâm” của phủ thiên, chữ “chí” hoặc “phúc” của phủ địa, chữ “mệnh” của phủ thoải. Hai bên phê chữ “thập tốc”.

Như vậy ta thấy lễ ở đây rất khác với tứ phủ. Lễ tam phủ dành cho người ốm đau bệnh tật, tiền duyên nghiệp kiếp cả âm lẫn dương còn lễ tứ phủ dành cho người sống lễ căn mạng.

Nếu không có thày đại tấu thì pháp sư làm tất. Nếu có thày đại tấu thì pháp sư lễ và làm việc văn sớ.

Phải có 9 thước vải hồng làm cầu.

Đàn lễ này làm người ta nhầm tưởng là mở phủ nhà Trần nhưng không phải mà ở đây là Ngài về khai giếng ngọc để làm thuốc và chữa bệnh cho sinh nhân (không phải là khai phủ). Đa số trước đây các cụ làm đàn này thương cho sinh nhân đội lệnh nhà Trần kèm theo nên có một số người nhầm tưởng là mở phủ nhà Trần.

Nếu làm lễ tập trung thì phải bày riêng mâm phủ, bát con và hình nhân. Vàng tiến cúng tam phủ ngoài vàng phủ ra còn có thêm 6000 vàng đại thiếc (3000 cho nhà Trần, 1000 cho Ngọc Hoàng, 1000 đương cảnh, 1000 đương niên), 1000 đỏ bản đền, 5000 ba quan, 2000 vàng (Nam Tào tím, Bắc Đẩu đỏ), 1000 vàng ba màu, 1000 vàng bốn màu, 1000 vàng năm màu. Phải có chim, cua, ốc phóng sinh.

Nếu làm ở đền nhà Trần không có bốn phủ phải thiết lập bài vị bốn phủ. Nếu làm ở Kiếp Bạc, Bảo Lộc chỉ được làm ở cung Mẫu và quan Nam Tào, Bắc Đẩu. Đàn lễ này là đàn lễ kết hợp “kim chi” lấy tam phủ và nhà Trần làm chủ đạo. Đàn lễ này nên làm ở các đền thờ kim chi và đền tam phủ Tuần Vường nơi thờ “thiên đại thoải công đồng thánh đế”.

 

 

Làm sao để Tu Đạo I Jannguyen 

Nguồn: Sưu tầm